An nam dịch ngữ (1995). Vương Lộc giới thiệu và chú giải. Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 1995.
Andreev, N.D. (1958). K voprosu proisxozdenii Vjietnamskogo jazyka. Sovetskoe vostokovedenie, 2, 1958, p.101–111.
Bình Nguyên Lộc (1971). Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Bách Bộc xuất bản, Sài Gòn 1971, 896 trang.
Bùi Khánh Thế (1974). Hai từ "giết" – "chết" và suy nghĩ về một hiện tượng biến đổi ngôn ngữ (ghi chép điền dã), Ngôn ngữ, số 4 (1974), trang 39–49.
Bùi Khánh Thế (2002). Trương Vĩnh Kí & chữ quốc ngữ. Tập san Khoa học Xã hội & nhân văn, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, số 20 (2002), trang 11–18.
Cao Thị Hoà (2003). Tìm hiểu thanh hỏi và thanh ngã trong tiếng Việt qua so sánh với các từ tương ứng có trong phương ngữ Thái-Mường Thanh Hoá. Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.
Cao Xuân Hạo (1986). Nhận xét về các nguyên âm của một phương ngữ tỉnh Quảng Nam. Ngôn ngữ, số 2 (1986), trang 22–29.
Cao Xuân Hạo (1988). Hai vấn đề âm vị học trong phương ngữ Nam Bộ. Ngôn ngữ, số 1 (1988), trang 48–53.
Diffloth, G. (1984). The Dvaravati Old Mon Language and Nyah Kur. Chulalongkorn University Printing House, Bangkok, 402p.
Diffloth, G. (1990). Vietnamese tono-genesis and new data on the registers of Thavung. 23rd ICSTLL, 4th Oct., 4p.
Dương Quảng Hàm (1943). Việt Nam văn học sử yếu. Nxb Hội Nhà văn, 1996, 494 trang.
Đào Duy Anh (1975). Chữ Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – Diễn biến. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Đặng Thai Mai (1978). Tiếng Việt Nam, một chứng cớ hùng hồn của sức sống dân tộc. Ngôn ngữ, số 4 (1978), trang 14–26.
Đoàn Thiện Thuật (1977). Ngữ âm tiếng Việt. Nxb Đại học và Trung học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 354 trang.
Efimov, A.Ju. (1983). Về nguồn gốc các thanh điệu tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 76–85.
Ferlus, M. (1974). Problèmes de mutations consonantiques en thavung. BSLP, Tome LXIX, p.311–323.
Ferlus, M. (1975). Vietnamien et proto Viet-Muong. ASEMI, VI, 4, 1975, p.21–54.
Ferlus, M. (1977). L'ìnixe instrumental rn en Khamou et sa trace en Vietnamien. Cah. de Ling. Asie Oriental no.2, Septembre, 1977, p.51–55.
Ferlus, M. (1979). Lexique Thavung–Francais. Cah. de Ling. Asie Oriental no.2, 1979, p.71–94.
Ferlus, M. (1981). Sự biến hoá của các âm tắc giữa (obstruentes mediales) trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 2 (1981), trang 1–22.
Ferlus, M. (1983). Essai de phonétique historique du Mon. Mon-Khmer Studies, no.12, p.1–90.
Ferlus, M. (1987). Histoire abrégée de l'évolution des consonnes initiales du Vietnamien et du Sino-Vietnamien. Mon-Khmer Studies, no.20, p.111–125.
Ferlus, M. (1988). Essai de phonétique historique du Khmer (Du milieu du premier millénaire de notre ère à l'époque actuelle). 21st ICSTLL, Oct. Univ. de Lund, Suède; Mon-Khmer Studies, no.21, p.57–89.
Ferlus, M. (1991). Vocalisme du Proto Viet-Muong. 24th ICSTLL, Ramkhamheang U. and Chiang Mai U. 7–11 Oct. 19p.
Ferlus, M. (1994). Formation du système vocalique du Vietnam. 27th ICSTLL, Paris 12–16 Oct. 8p.
Ferlus, M. (1994). L'évolution des fricatives vélaires et dans les langues Thai. Cah. de CRLAO 23, Paris 1994, p.129–139.
Ferlus, M. (1994). Quelques particularités du Cuôi Chăm, une langue Viet-Muong du Nghệ An (Viêtnam). Neuviemes journées de linguistique de l'Asie Orientale CRLAO (CNRS – EHESS), 5–6 mai 1994, Paris, 4p.
Ferlus, M. (1995). Particularités du dialecte Vietnamien de Cao Lao Hạ (Quảng Bình – Việt Nam). Dexiemes journées de linguistique de l'Asie Orientale CRLAO (CNRS – EHESS), 16–17 mai 1995, Paris, 6p.
Ferlus, M. (1996). Du taro au riz en asie du Sud-est, petite histoire d'un glissement semantique. Mon-Khmer Studies, no.25, p.39–49.
Ferlus, M. (1996). Les systèmes de tons dans les langues Việt-Mường. 29th ICSTLL, Univ. of Leiden, Netherlands 12–16 Oct. 15p.
Ferlus, M. (1996). Un cas de vietnamisation d'un dialecte Vietnamien hétérodoxe du Quảng Bình (Việt Nam). Onziemes journées de linguistique de l'Asie Orientale CRLAO (CNRS – EHESS), 11–12 Juin 1996, Paris, 4p.
Ferlus, M. (1997). Những sự không hài hoà thanh điệu trong tiéng Việt mường và những mối liên quan lịch sử của chúng. Ngôn ngữ, số 3 (1997), trang 14–23.
Ferlus, M. (1998). Le maleng brô et le Vietnamien. Mon-Khmer Studies, no.27, p.55–66.
Gregerson K.J. (1969). A Study of middle Vietnamese phonology. BSEI, 44 (2), p.131–193
Hà Huy Giáp (1973). Giới thiệu về Nguyễn Du và truyện Kiều. In trong Truyện Kiều, Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội, 1973.
Hà Văn Tấn (1981). Giao lưu văn hoá ở người Việt cổ. In trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, trang 163–191.
Hagège, C. & Haudricourt, A.G. (1978). La phonologie panchronique. Puf Paris, 224p.
Haudricourt, A.G. (1953). Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 19–22.
Haudricourt, A. G. (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 23–31.
Haudricourt, A.G. (1966). Giới hạn và nối kết của ngôn ngữ Nam Á ở Đông Bắc. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 32–40.
Haudricourt, A.G. (1972). Problèmes de phonologie diachronique. CNRS Paris, 392p.
Haudricourt, A.G. (1974). Hai chữ B trong cuốn từ điển của A. de Rhodes. Ngôn ngữ số 4 (1974), trang 37–38.
Hoàng Cao Cương (1989). Thanh điệu Việt qua giọng địa phương trên cứ liệu F0. Ngôn ngữ, số 4 (1989), trang 1–17.
Hoàng Cao Cương (2004). Về chữ quốc ngữ hiện nay. Ngôn ngữ, số 1 (2004), trang 36–43.
Hoàng Dũng (1991). Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre De Rhodes: Nguồn cứ liệu soi sáng quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kl, pl, bl, tl và ml trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1991), trang 5–7.
Hoàng Thị Châu (1964). Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông. Thông báo khoa học ĐH Tổng hợp Hà Nội, tập 3, trang 94–106.
Hoàng Thị Châu (1989). Tiếng Việt trên các miền đất nước (Phương ngữ học). Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 284 trang.
Hoàng Thị Châu (2000). Sự hình thành một phương ngữ Việt ngoài lãnh thổ quốc gia. Ngôn ngữ, số 4 (2000), trang 23–25.
Hoàng Thị Ngọ (1999). Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản "Giải âm phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kính". Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 231 trang.
Hoàng Thị Ngọ (1999). Sự hiện diện của loại chữ Nôm dùng hai mã chữ riêng biệt để ghi một từ Việt. Tạp chí Hán Nôm, số 39, trang 13–18.
Hoàng Tiến (1994). Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỉ 20 (quyển 1). Nxb Lao động, 267 trang.
Hoàng Tuệ (1994). Về sự sáng chế chữ Quốc ngữ. Ngôn ngữ, số 4 (1994), trang 20–24.
Hoàng Tuệ (1997). Nhìn lại thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp, Ngôn ngữ, số 3 (1997), trang 1–5.
Hoàng Văn Ma & Tạ Văn Thông (1998). Tiếng Bru-Vân Kiều. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 337 trang.
Hoàng Văn Vân (2002). Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 515 trang.
Hồ Lê (1992). Từ Nam Á trong tiếng Việt: Tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc ở phía Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, trang 65–110.
Huỳnh Công Tín (1999). Hệ thống ngữ âm của tiếng Sài Gòn (so với phương ngữ Hà Nội và một số phương ngữ khác ở Việt Nam). Tóm tắt luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, thành phố Hồ Chí Minh.
Jakhontov, S.E. (1973). Về sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam châu Á. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 73–77.
Lê Quang Thiêm (2003). Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kì 1858–1845. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 295 trang.
Lê Văn Quán (1981). Nghiên cứu về chữ Nôm. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 231 trang.
Li, F.K. (1977). A Handbook of Comparative Tai. The University Press of Hawaii, 389p.
Lí Toàn Thắng (1996). Vai trò của A. de Rhodes đối với sự chế tác và hoàn thiện chữ quốc ngữ. Ngôn ngữ, số 1 (1996), trang 1–7.
Logan, J.R. (1856). Ethnology of the Indo-Pacific Islands. JIA, no.6.
Martinet, A. (1960). Éléments de linguistique générale. Armand Colin, Paris, 2003, 222p.
Maspéro, H. (1912). Etude sur la phonétique historique de la langue annamite: Le s initiales. BEFEO, XII, no.1, p.1–127.
Ngô Đức Thịnh (1996). Các sắc thái văn hoá tộc người. In trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996, trang 91–115.
Nguyễn Hữu Hoành (1999). Về sự phân định các ngôn ngữ của nhóm Việt-Mường, Ngôn ngữ, số 5 (1999), trang 35–42.
Nguyễn Khánh Toàn (1978). Về lịch sử tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1978), trang 1–13.
Nguyễn Khắc Hùng & Lê Văn Trường (1988). Uý Lô và hiện tượng -r cuối trong tiếng Tiền Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1988), trang 68–70.
Nguyễn Ngọc San (1995). An nam dịch ngữ – Cứ liệu quan trọng để nghiên cứu tiếng Việt thế kỉ XV-XVI, Ngôn ngữ số 4 (1995), trang 68–73.
Nguyễn Phan Cảnh (1962). Khảo sát về thanh điệu tiếng Mường (phương ngữ Mường Bi) trong các từ tách rời. In trong Thông báo Khoa học. Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Nguyễn Phú Phong (2003). Đại từ chỉ ngôi trong tiếng Việt và tiếng Mường. Ngôn ngữ, số 10 (2003), trang 1–5.
Nguyễn Phú Phong; Trần Trí Dõi & Ferlus, M. (1988). Lexique Việtnamien–Rục–Francais. Université de Paris, 100p.
Nguyễn Tài Cẩn (1979). Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội; Tái bản Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000, 354 trang.
Nguyễn Tài Cẩn (1985). Một số vấn đề về chữ Nôm. Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội.
Nguyễn Tài Cẩn (1991). Một vài nhận xét thêm rút ra từ cách đọc Cổ Hán Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1991), trang 1–4.
Nguyễn Tài Cẩn (1995). Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo). Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995, 348 trang.
Nguyễn Tài Cẩn (1998). Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 296 trang.
Nguyễn Tài Cẩn (1998). Thử phân kì lịch sử 12 thế kỉ của tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 6 (1998), trang 7–12.
Nguyễn Tài Cẩn (2001). Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Thị Bạch Nhạn (1994). Tìm hiểu sự biến đổi hình thức chữ quốc ngữ từ "Từ điển Việt–Bồ–La" của Alexandre de Rhodes đến "Từ điển Việt–La" của Pigneau de Béhaine. Ngôn ngữ, số 1 (1994), trang 34–41.
Nguyễn Văn Khang (2002). Một vài nhận xét về từ ngữ tiếng Mường Bi trong sự liên hệ với từ ngữ tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 6 (2002), trang 23–27.
Nguyễn Văn Khang... (2002). Từ điển Mường–Việt. Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 2002.
Nguyễn Văn Lợi (1988). Sự hình thành đối lập đường nét thanh điệu bằng/không bằng một hướng trong ngôn ngữ Việt Mường (trên cứ liệu tiếng Arem và Rục). Ngôn ngữ, số 2 (1988), trang 3–9.
Nguyễn Văn Lợi (1991). Về quá trình hình thành sự đối lập âm vực thanh điệu trong các ngôn ngữ Việt Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 49–59.
Nguyễn Văn Lợi; Jerold A. Edmondson (1997). Thanh điệu và chất giọng (voice quality) trong tiếng Việt hiện đại (phương ngữ Bắc Bộ): khảo sát thực nghiệm. Ngôn ngữ, số 1 (1997), trang 1–18.
Nguyễn Văn Tài (1975). Tiếng Nguồn: Một phương ngữ của tiếng Việt hay một phương ngữ của tiếng Mường?. Ngôn ngữ, số 4 (1975), trang 8–16.
Nguyễn Văn Tài (1980). Tìm hiểu thêm về sự hình thành thanh điệu trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4 (1980), trang 34–42.
Nguyễn Văn Tài (1983). Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn. Luận án PTS, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.
Parkin, R. (1991). A Guide to Austroasiatic Speake rs and Their Languages. University of Hawaii Press, Honululu, 198p.
Phạm Đức Dương (1979). Về mối quan hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ nhóm Việt Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1979), trang 46–58.
Phạm Văn Đồng (1999). Trở lại vấn đề về sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt. Báo Giáo dục và Thời đại, thứ 3, số 72, ngày 07/9/1999.
Phan Ngọc & Phạm Đức Dương (1983). Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á. Viện Đông Nam Á xuất bản, Hà Nội, 1983, 351 trang.
Béhaine, P. de (1773). Từ vị Annam Latinh. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, thành phố Hồ Chí Minh, 1999, 576 trang.
Raimo, A. (1989). Historical and Comparative Linguistics. John Benjamins Publishing Company, Amsterdam/Philadelphia, 465p.
Rhodes, A. de (1651). Phép giảng tám ngày. Tủ sách Đoàn kết, thành phố Hồ Chí Minh, 1993, 319 trang.
Rhodes, A. de (1651). Từ điển Annam–Lusitan–Latin. Nxb Khoa học Xã hội, 1991.
Jacques, R. (1996). Để hiểu nguồn gốc chữ quốc ngữ: Một bức thư chưa được công bố của Francisco de Pina. Ngôn ngữ, số 3 (1996), trang 46–57.
Sapir, E. (1949). Ngôn ngữ dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói. Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, 2000, 284 trang.
Saussure, F. de (1916). Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973, 398 trang.
Schneider, P. (1992). Dictionaire historique des ideogrames Vietnamiens. Université de Nice-Sophia Antipolis, 914p.
Shorto, H.L. (1971). A dictionary of the Mon inscriptions from the sixth to the sixteenth centuries. Oxford University Press, London.
Stankevich, N.V. (1978). Một vài suy nghĩ bước đầu về việc nghiên cứu ngữ pháp lịch sử tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 38, trang 27–34.
Stankevich, N.V. (1991). Một chứng tích thú vị về sự tiếp xúc Việt Hán: Bài khải "Binh dân luận" của Ngô Thời Sĩ. Ngôn ngữ, số 4 (1991), trang 8–12.
Taddei, É. (2000). La Phonétique historique. Armand Colin, Paris, 2000, 191p.
Tỉnh Lâm Đồng (1983). Từ điển Việt-Kơ Ho. Sở Văn hoá-Thông tin xuất bản, 185 trang.
Trần Đại Nghĩa (2001). Tổ hợp con lều trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi – Một manh mối về lịch sử loại từ tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 10 (2001), trang 20–25.
Trần Quốc Vượng chủ biên (1997). Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 240 trang.
Trần Trí Dõi (1987). Những vấn đề từ vựng và ngữ âm tiếng Chứt góp phần nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Luận án PTS Khoa học Ngữ văn, ĐH Tổng hợp Hà Nội.
Trần Trí Dõi (1988). Tìm hiểu thêm về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt ở những từ có âm cuối vang (trên cứ liệu các ngôn ngữ Việt-Mường). In trong Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á, trang 40–45. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Trần Trí Dõi (1990). Nhận xét về thanh điệu thổ ngữ Arem. Tạp chí Khoa học ĐH Tổng hợp Hà Nội, số 2 (1990), trang 37–40.
Trần Trí Dõi (1991). Về các âm đầu tiền thanh hầu hoá (préglottalisée) trong proto Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 2 (1991), trang 29–32.
Trần Trí Dõi (1991). Về quá trình hình thành thanh của một vài thổ ngữ/ngôn ngữ Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 67–72.
Trần Trí Dõi (1992). On some lexigological Equivalents between the Nyak Kur (in Thailand) and the Viet-Muong languages (in Vietnam). Proceedings of Third ISLL PAN-ASIATIC LINGUISTICS, Bangkok, 8–1/1992, Volume II, p.665–672.
Trần Trí Dõi (1996). Các ngôn ngữ thành phần của nhóm Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 3 (1996), trang 28–34.
Trần Trí Dõi (1996). Les initiales */s,z/ et /h/ du Proto Viêt-Mương (PVM) et leurs changements dans le Vietnamien. Khmer Studies, no.25, p.263–268.
Trần Trí Dõi (1998). Khái quát về lịch sử (...) tiếng Việt. In trong Cơ sở tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, trang 5–21.
Trần Trí Dõi (1999). Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 301 trang.
Trần Trí Dõi (2000). Vietnamese Tone in Cua Lo (Nghe An). Papers 33rd ICSTLL, Ramkhamheang University, Bangkok 2–6 Oct., p.28–32; Thanh điệu tiếng Việt ở Cửa Lò (Nghệ An). Ngôn ngữ, số 5 (2002), trang 36–40.
Trần Trí Dõi (2001). Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội. Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.
Trần Trí Dõi (2002). Một vài nhận xét về lịch sử nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt. Tập san Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, số 20 (2002), trang 19–25.
Trần Trí Dõi (2005). Giáo trình lịch sử tiếng Việt (sơ thảo). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, 268 trang.
Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983). Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 282 trang.
Viện Ngôn ngữ (1971). Tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hà Nội.
Võ Xuân Quế (1998). Một số nhận xét về chữ quốc ngữ trong sách "Nhật trình kim thư khất chính giáo" của Philipphê Bỉnh. In trong Tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học xuất bản, Hà Nội, trang 216–225.
Võ Xuân Trang (1997). Phương ngữ Bình Trị Thiên. Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 302 trang.
Vũ Bá Hùng (1991). Nguồn gốc các thanh điệu của tiếng Việt và cách nhìn đồng đại của sự khảo sát thực nghiệm. Ngôn ngữ, số 1 (1991), trang 60–66.
Vương Lộc (1978). Về quá trình biến đổi u, b > v. Ngôn ngữ, số 4 (1978), trang 42–44.
Vương Lộc (1989). Hệ thống âm đầu tiếng Việt thế kỉ XV-XVI qua cứ liệu cuốn An Nam dịch ngữ. Ngôn ngữ, số 1+2 (1989), trang 1–12.
Vương Lộc (1989). "Phương ngôn" của Dương Hùng thời Tây Hán và một số từ có quan hệ với tiếng Việt và các ngôn ngữ phương Nam. Ngôn ngữ, số 1 (1994), trang 1–5.
Xokolovxkaya, N.K. (1976). Opyt rekonstrukcija phonologichskoj sistemy Vietmuongskovo jazyka. Moskva, 1976.
Xokolovxkaya, N.K. (1978). Về sự phân loại nội bộ các ngôn ngữ của nhóm Việt-Mường. Ngôn ngữ, số 2 (1978), trang 49–55.
Yan Qixiang & Zhou Zhizhi (1995). The Mon-Khmer languages in China and Austro-Asiatic languages. The Central University for Nationalities Press, 889p.
Bản để in
Chuyển lên:Tiếng Việt Lịch sử
MỤC LỤC
Trang đầu
Ngôn ngữ học
Tiếng Việt
Lịch sử
Phương ngữ
Hiện tại
Chuyên đề
Diễn đàn
NGÀY NÀY NĂM XƯA
Piốt Ilich Traicôpxki đã sinh ra ở Vikinxcơ, miền Uran trong một gia đình kĩ sư mỏ, ngày 25/4/1840. Ông được chăm sóc và phát triển năng khiếu âm nhạc từ nhỏ. Năm 19 tuổi, tốt nghiệp trường luật, làm việc ở bộ luật pháp nhưng ông vẫn dành nhiều thời gian cho âm nhạc, chơi đàn pianô. Năm 22 tuổi, Traicôpxki học ở nhạc viện Pêtecbua. Sau 3 năm học tập, tốt nghiệp với huy chương vàng, sau đó là giáo sư Nhạc viện Matxcơva – Ông đã đi biểu diễn ở nhiều nước. [Chi tiết...]
GIỚI THIỆU SÁCH
Ngữ nghĩa học dẫn luận
Tiếp xúc ngôn ngữ ở Việt Nam
Viết nhịu – lapsus calami: Dọn vườn ngôn ngữ học
» Xem tiếp...
ĐỐ VUI
Vạc ruộng vuông vức
Cây lúa xanh đen
Ai thấy cũng khen
Chả khen chi, khen người khéo cấy
... là gì?
RSS
Lịch sử
Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán (phần 2)
Ứng xử ngôn ngữ của người Việt đối với các yếu tố gốc Hán (phần 1)
Các hệ thống âm vị tiếng Việt giai đoạn Việt-Mường chung
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học (Phần 4)
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học (Phần 3)
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học (Phần 2)
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Việt ngữ học (Phần 1)
Một số tài liệu về lịch sử tiếng Việt
Các hệ thống âm vị tiếng Việt giai đoạn tiền Việt-Mường
Các hệ thống âm vị tiếng Việt hiện đại
Các ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Nam Á có mặt tại Việt Nam
Nhóm ngôn ngữ Việt-Mường
Giai đoạn Việt-Mường cổ
Giai đoạn Việt-Mường chung
Giai đoạn tiếng Việt trung đại
Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2008
Bạn đã học tiếng Anh đúng cách chưa?
Để học tiếng Anh hiệu quả, đôi khi cũng cần đến những bí quyết riêng, nghe thì có vẻ đơn giản nhưng để áp dụng được thì không hề dễ chút nào.
Chia đúng động từ
Đừng nghĩ việc chia những động từ đơn giản như I am, he is... hay thêm "s" vào sau động từ thường là việc không đáng quan tâm. Điều mà bạn cho là quá đơn giản ấy lại là một trong những lỗi thường gặp khi sử dụng tiếng Anh. Chia động từ cũng là một yếu tố căn bản trong ngữ pháp tiếng Anh. Một khi bạn không thể làm đúng thứ căn bản nhất thì khó có thể làm đúng những thứ phức tạp hơn. Hãy bắt đầu bằng việc viết những câu đơn giản với cấu trúc "chủ ngữ + động từ".
Nghĩ gì viết nấy
Có một bài tập thế này: hãy viết đầy một trang giấy tất cả những gì bạn đang nghĩ trong đầu bằng tiếng Anh. Cứ để dòng suy nghĩ đang chảy trong đầu được hiển thị hết lên trang giấy. Thậm chí, nếu viết sai một từ và như phản ứng tự nhiên, bạn sẽ nghĩ ngay trong đầu rằng: "Thôi chết, mình viết sai từ này rồi!" thì đừng dừng lại để sửa mà hãy viết câu bạn vừa nghĩ lên giấy. Phương pháp "Nghĩ gì viết nấy" này có 2 lợi ích: một là giúp bạn kỹ năng viết tiếng Anh nhanh, nghĩ đến đâu viết đến đó như quán tính có sẵn, không phải nặn óc suy nghĩ; hai là giúp tập thói quen suy nghĩ bằng tiếng Anh.
Tập suy nghĩ bằng tiếng Anh
Nếu bạn suy nghĩ bằng tiếng Việt rồi viết hay nói bằng tiếng Anh thì sẽ mất thời gian và công sức để dịch điều đó ra tiếng Anh. Chưa kể bạn còn phải suy nghĩ xem dịch như vậy đã đúng chưa. Chi bằng tập suy nghĩ bằng tiếng Anh để tiết kiệm khoản thời gian đáng kể cộng với việc tiếng Anh sẽ tự động tuôn ra khi bạn viết hay nói mà không gặp mấy trở ngại.
Hãy phát âm đúng
Sau bao lần cố căng tai ra hay mua một tai nghe thật xịn với hy vọng nghe tốt tiếng Anh mà vẫn không thành công, hẳn là bạn đã luyện nghe chưa đúng cách. Nguyên nhân có thể do bạn phát âm sai. Từ chỗ phát âm sai, bạn sẽ quen với việc từ đó phải phát âm như thế. Hậu quả khi người khác phát âm đúng, bạn chẳng thể nhận ra đó là từ quen thuộc và không hiểu họ đang nói gì. Khi phát âm, nhớ chú ý đến trọng âm của từ, ngữ điệu trong câu và nhất là phần kết thúc từ...
Bật phụ đề khi xem phim
Khi xem các bộ phim tiếng Anh, nhớ bật phụ đề tiếng Anh. Đừng tự ép mình luyện nghe bằng cách tắt phụ đề và nghe diễn viên nói chay. Bật phụ đề sẽ giúp bạn biết được một từ được đọc chính xác như thế nào hay một từ vựng mới do diễn viên nói sẽ được viết ra sao, từ đó học được từ mới, cách phát âm đúng nhanh hơn.
Tập đặt câu với các từ mới
Sau khi đã học được một từ vựng mới, cách nhanh nhất để nhớ nghĩa từ đó là tập đặt câu với nó, thậm chí viết một đoạn văn trong đó có từ mới biết. Lợi ích của phương pháp này là giúp bạn "khắc ghi" từ mới vào đầu bằng cách vận dụng nó vào thực tế chứ không học thuộc lòng.
Mạnh dạn nói chuyện với người nước ngoài
Đừng sợ nói sai hay ngượng ngùng khi nói chuyện với người nước ngoài. Nếu ngại hay sợ sai thì bạn sẽ không bao giờ nhận ra nhược điểm của mình và mãi mãi không sửa được nó. Thêm vào đó, những người mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ của họ sẽ không cười bạn đâu. Thậm chí họ còn giúp bạn sửa lại cho đúng nữa!
Teaching English in Vietnam
Teaching English abroad is a unique experience in any country, but perhaps no more so than in Vietnam. The Vietnamese people live a life that is very much influenced by the past. The beauty of the countryside combined with the rich heritage of the culture will surely result in an extraordinary experience.
If you're considering teaching English in Vietnam, the following information will help you know what to expect.
What requirements are there to teach in Vietnam?
Teaching English in Vietnam requires, in general, a four-year college degree in any subject, and preferably a TEFL (Teaching English as a Foreign Language) certificate. While certification is not necessary, it will increase your chances of landing a good job. A working knowledge of the Vietnamese language is recommended, but only for your own comfort and peace of mind.
Available positions
The vast majority of people teaching English in Vietnam do so at universities. English is a popular course of study for Vietnamese university students, and chances are good that as a native English speaker you'll be a highly valued member of the faculty. Surprisingly enough, you probably won't spend the entire time teaching students; you may be called upon to teach other professors English skills as well.
Although universities are the number one job market, it is also possible to get a job as a private English tutor in Vietnam, or as a teacher of part-time conversational classes. Many Vietnamese adults choose to learn English and attend evening classes by choice, and native-speaking teachers are always in demand.
Life in Vietnam
As a teacher of English in Vietnam, you will essentially be considered a citizen. You'll be required to have a work visa in order to remain in the country, and will be in charge of locating your own lodging. All of these factors should be taken into account when you're choosing a city in which to teach. The lodging available (and the cost of it) will vary widely between small villages and large capital cities. Although big cities may be more expensive in terms of cost of living, they will also offer more opportunities for teaching positions. The final decision is really up to you.
The city of Hanoi, in northern Vietnam, is the main governmental seat of the country. The area around Hanoi and bordering China is influenced heavily by Chinese culture, while further down south in Vietnam you will discover smaller villages and a more mixed range of people and cultures.
Regardless of where you choose to live, beware of the fact that traveling in Vietnam is expensive. Rail travel is available, but is generally slow; if your work place and your home are too far apart to walk, you may want to consider investing in a bicycle.
The Vietnamese people are known for being very friendly and accepting; Vietnam is a pleasant and beautiful country for visitors. Some English teachers choose Vietnam precisely for these reasons. Family ties are strong, and although Buddhism is considered the main religion, no particular faith is dominant. You'll find your Vietnamese students to be open-minded and giving, with a sense of fairness and teamwork already well developed.
General Expectations
Teaching English in Vietnam is a wonderful adventure, but you shouldn't expect to get rich doing it. Pay for teachers is relatively low in Vietnam, and sometimes jobs are somewhat scarce and difficult to locate. You may have to take what you can get.
With that said, you can make the experience much more positive for yourself if you go into it with some money in the bank and a few connections. Many colleges and organizations offer teacher-exchange programs that can help place you with a school in Vietnam and get you started on the path to your teaching career. Use the internet as a tool, and search online for teaching jobs in Vietnam. The more prepared you are to face the challenges ahead, the more you'll benefit from the entire experience.
[By Michelle Simmons]
Đây là một bài viết có từ lâu về các khó khăn trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp trong dạy – học tiếng Anh ở một số nước châu Á và Việt Nam, bạn nào yêu thích thì tham khảo nhé!
TÓM TẮT
Tác giả bài viết đã chỉ ra bốn khó khăn trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp trong dạy – học tiếng Anh ở một số nước châu Á và Việt Nam:
1. Người học không tích cực tham gia hoạt động trong lớp và không có động cơ thúc đẩy việc học tập.
2. Chương trình đào tạo giáo viên dạy học tiếng Anh chưa đạt yêu cầu.
3. Lớp học quá đông học viên.
4. Sự thiếu nhất quán giữa giảng dạy và thi cử.
NGƯỜI HỌC KHÔNG TÍCH CỰC THAM GIA HOẠT ĐỘNG TRONG LỚP VÀ KHÔNG CÓ ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY VIỆC HỌC TẬP
Khi nói về những khó khăn trong việc thực hiện PPGT, trở ngại từ phía người học là điều cần được xem xét trước tiên. Chính việc không tích cực tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học và tình trạng không có động cơ thúc đẩy học tập đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong thực tế học tập của các lớp học ngoại ngữ.
Mặc dù việc tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp là một yếu tố mang tính đặc thù của PPGT, trong báo cáo nghiên cứu xuất bản năm 2001, Smith nhận xét các học sinh và sinh viên trong xã hội không thuộc nền văn hóa phương Tây không thích tham gia vào các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học ngoại ngữ(5). Nhà nghiên cứu này phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử là yếu tố ngăn cản học sinh, sinh viên ở Hồng Kông không dám đặt câu hỏi hoặc lên tiếng bày tỏ ý kiến cá nhân của mình để tham gia một cách tích cực vào những hoạt động giao tiếp trong lớp.
Theo tư tưởng Nho giáo, học trò phải nghiêm túc học lấy những điều người thầy trinh bày để có thể lặp lại chính xác những kiến thức ấy; thêm vào đó, trong lớp học, việc tỏ ra giỏi giang hơn những người học cùng lớp với mình được xem là một điều không hay, một việc không nên làm. Vì vậy, nếu có một học trò nào chất vấn hoặc đánh giá việc giảng dạy của người thầy, lập tức người học trò ấy sẽ bị mọi người phê phán với những nhận xét không mấy tốt đẹp.
Trong mắt của mọi người, người học trò ấy không biết tôn sư trọng đạo và thiếu đức khiêm tốn chỉ muốn phô trương bản thân mình trước tập thể. Ngoài ra, Smith phân tích thêm rằng tâm lý sợ mất mặt trước đám đông cũng là một yếu tố khác góp phần cản trở việc tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học ngoại ngữ của các học viên. Các học sinh, sinh viên không đủ mạnh dạn mở miệng nói trong lớp vì họ sợ khi tham gia vào các hoạt động này, họ sẽ nói sai và như thế sẽ bị mọi người đánh giá thấp. Đây cũng là những gì Smith đã ghi nhận được qua nghiên cứu của mình trong các lớp học tiếng Anh ở Hàn Quốc.
Bên cạnh những yếu tố tập quán văn hóa vừa nêu trên, có một yếu tố khác không thể không nói đến ở đây là các học sinh, sinh viên học ngoại ngữ nhưng không có một động cơ thúc đẩy tích cực thôi thúc sự nỗ lực học tập của họ. Nghiên cứu thực tế học và dạy tiếng Anh ở Việt Nam, Bock kết luận: “Phần lớn học sinh, sinh viên dường như chỉ quan tâm đến việc đối phó với các kỳ thi. Và các kỳ thi không hề kiểm tra năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ của học trò”. Nhà nghiên cứu này nhận thấy các sinh viên chỉ muốn kiếm việc làm, và rất nhiều việc làm ở Việt Nam không đòi hỏi khả năng sử dụng tiếng Anh lưu loát. Vì thế, các học sinh, sinh viên Việt Nam không bỏ công sức học tập ngoại ngữ để giao tiếp.
Nhưng không phải chỉ người học gây ra những trở ngại trong việc thực hiện PPGT. Khó khăn cũng nảy sinh từ phía các giáo viên.
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN CHƯA ĐẠT YÊU CẦU
Các giáo viên dạy tiếng Anh ở các nước châu Á gặp nhiều khó khăn trong công việc của mình vì họ không được đào tạo đúng yêu cầu. Ở Indonesia, năm 2000, Jazadi nghiên cứu và phát hiện đa số các giáo viên dạy tiếng Anh chưa được đào tạo chính quy trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ và khả năng sử dụng tiếng Anh của chính bản thân những người giáo viên này rất non kém(6). Tình hình có vẻ khả quan hơn đối với Việt Nam, vì theo điều tra của Lê Văn Cảnh vào năm 2002(7), các giáo viên dạy tiếng Anh của Việt Nam đều tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh từ các trường cao đẳng và đại học. Tuy nhiên, mặc dù rất nhiều giảng viên đại học có năng lực và nhiệt tình, thực chất họ lại không thể vận dụng PPGT xuyên suốt quá trình làm việc với sinh viên của mình; do đó, về mặt sư phạm, các sinh viên không có yếu tố “thị phạm”, nói cách khác, không được kiến tập thường xuyên những giờ dạy theo PPGT, không được tiếp xúc với những ví dụ mẫu của PPGT một cách thường trực. Tất yếu, khi các sinh viên này tốt nghiệp ra trường thành giáo viên đứng trên bục giảng, họ khó lòng có khả năng thực hiện PPGT thành công trong khi dạy học trò của mình. Tham khảo chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng, Lê Văn Cảnh chỉ ra cho thấy phần lớn thời gian trong chương trình đào tạo của các trường này dành cho việc cung cấp kiến thức về tiếng Anh và rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên, trong khi đó, thời gian dành cho rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chỉ chiếm 40% toàn bộ chương trình đào tạo. Nói cách khác, kiến thức học thuật về ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ được chú trọng hơn trong khi kiến thức và năng lực về giảng dạy ngoại ngữ không đựợc quan tâm đúng mức. Chính phương hướng đào tạo này đưa đến hệ quả các giáo viên dạy ngoại ngữ không đủ bản lĩnh tổ chức và điều động các hoạt động sư phạm trong các lớp học thực tế nói chung và trong việc tổ chức và điều động các hoạt động giao tiếp mang tính sư phạm trong các lớp học vận dụng PPGT nói riêng.
Sau yếu tố người học và người dạy, hệ thống giáo dục là yếu tố thứ ba góp phần làm cho việc áp dụng PPGT ở môi trường châu Á gặp nhiều khó khăn với những lớp học có sĩ số quá đông và tình trạng thiếu nhất quán giữa việc dạy và thi cử.
LỚP HỌC ĐÔNG
Báo cáo khoa học của Nauman năm 2001 cho biết ở châu Á, một lớp học tiếng Anh có thể đông đến 130 sinh viên(8). Tương tự, Bock quan sát thấy ở Việt Nam sĩ số trung bình của một lớp học tiếng Anh khoảng 65 sinh viên. Lê Phước Kỳ xác nhận trong nghiên cứu của mình vào năm 2002 rằng những lớp học có sĩ số đông như thế thực sự là một trở ngại lớn cho việc áp dụng PPGT(9). Trước hết, người giáo viên không thể quan tâm đến tất cả các sinh viên như nhau trong một lớp học quá đông. Vì vậy, những sinh viên rụt rè, có học lực trung bình hoặc yếu sẽ bị lấn lướt bởi những sinh viên học giỏi hơn và dạn dĩ hơn. Từ đó, những sinh viên chưa giỏi hoặc nhút nhát hầu như không tiến bộ trong học tập hoặc càng lúc càng tụt hậu so với những sinh viên giỏi và dạn dĩ. Hơn nữa, một lớp học đông sẽ là một lớp học gồm nhiều trình độ rất khác biệt. Bởi thế, cùng một tài liệu hoặc một hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh, một số sinh viên trong lớp sẽ thấy quá dễ đến mức nhàm chán trong khi một số khác lại thấy quá khó không thể thực hiện nổi.
SỰ THIẾU NHẤT QUÁN GIỮA GIẢNG DẠY VÀ THI CỬ
Nghiên cứu của Jazadi năm 2000 vạch ra cho thấy hệ thống thi cử của Indonesia với những đề thi trắc nghiệm theo dạng đọc hiểu và chọn câu trả lời đúng là một nguyên nhân gây ra những khó khăn trong việc vận dụng PPGT. Jazadi phân tích rằng hình thức thi cử như thế làm cho việc sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp thực tế được rèn luyện trong lớp trở nên không quan trọng nếu không muốn nói là vô nghĩa. Chính vì lý do này, cả giáo viên lẫn sinh viên đều tập trung vào việc học để đối phó với thi cử và những kỹ năng giao tiếp vốn là yếu tố đặc thù của PPGT không được thực hiện trong các lớp học ngoại ngữ.
Chia đúng động từ
Đừng nghĩ việc chia những động từ đơn giản như I am, he is... hay thêm "s" vào sau động từ thường là việc không đáng quan tâm. Điều mà bạn cho là quá đơn giản ấy lại là một trong những lỗi thường gặp khi sử dụng tiếng Anh. Chia động từ cũng là một yếu tố căn bản trong ngữ pháp tiếng Anh. Một khi bạn không thể làm đúng thứ căn bản nhất thì khó có thể làm đúng những thứ phức tạp hơn. Hãy bắt đầu bằng việc viết những câu đơn giản với cấu trúc "chủ ngữ + động từ".
Nghĩ gì viết nấy
Có một bài tập thế này: hãy viết đầy một trang giấy tất cả những gì bạn đang nghĩ trong đầu bằng tiếng Anh. Cứ để dòng suy nghĩ đang chảy trong đầu được hiển thị hết lên trang giấy. Thậm chí, nếu viết sai một từ và như phản ứng tự nhiên, bạn sẽ nghĩ ngay trong đầu rằng: "Thôi chết, mình viết sai từ này rồi!" thì đừng dừng lại để sửa mà hãy viết câu bạn vừa nghĩ lên giấy. Phương pháp "Nghĩ gì viết nấy" này có 2 lợi ích: một là giúp bạn kỹ năng viết tiếng Anh nhanh, nghĩ đến đâu viết đến đó như quán tính có sẵn, không phải nặn óc suy nghĩ; hai là giúp tập thói quen suy nghĩ bằng tiếng Anh.
Tập suy nghĩ bằng tiếng Anh
Nếu bạn suy nghĩ bằng tiếng Việt rồi viết hay nói bằng tiếng Anh thì sẽ mất thời gian và công sức để dịch điều đó ra tiếng Anh. Chưa kể bạn còn phải suy nghĩ xem dịch như vậy đã đúng chưa. Chi bằng tập suy nghĩ bằng tiếng Anh để tiết kiệm khoản thời gian đáng kể cộng với việc tiếng Anh sẽ tự động tuôn ra khi bạn viết hay nói mà không gặp mấy trở ngại.
Hãy phát âm đúng
Sau bao lần cố căng tai ra hay mua một tai nghe thật xịn với hy vọng nghe tốt tiếng Anh mà vẫn không thành công, hẳn là bạn đã luyện nghe chưa đúng cách. Nguyên nhân có thể do bạn phát âm sai. Từ chỗ phát âm sai, bạn sẽ quen với việc từ đó phải phát âm như thế. Hậu quả khi người khác phát âm đúng, bạn chẳng thể nhận ra đó là từ quen thuộc và không hiểu họ đang nói gì. Khi phát âm, nhớ chú ý đến trọng âm của từ, ngữ điệu trong câu và nhất là phần kết thúc từ...
Bật phụ đề khi xem phim
Khi xem các bộ phim tiếng Anh, nhớ bật phụ đề tiếng Anh. Đừng tự ép mình luyện nghe bằng cách tắt phụ đề và nghe diễn viên nói chay. Bật phụ đề sẽ giúp bạn biết được một từ được đọc chính xác như thế nào hay một từ vựng mới do diễn viên nói sẽ được viết ra sao, từ đó học được từ mới, cách phát âm đúng nhanh hơn.
Tập đặt câu với các từ mới
Sau khi đã học được một từ vựng mới, cách nhanh nhất để nhớ nghĩa từ đó là tập đặt câu với nó, thậm chí viết một đoạn văn trong đó có từ mới biết. Lợi ích của phương pháp này là giúp bạn "khắc ghi" từ mới vào đầu bằng cách vận dụng nó vào thực tế chứ không học thuộc lòng.
Mạnh dạn nói chuyện với người nước ngoài
Đừng sợ nói sai hay ngượng ngùng khi nói chuyện với người nước ngoài. Nếu ngại hay sợ sai thì bạn sẽ không bao giờ nhận ra nhược điểm của mình và mãi mãi không sửa được nó. Thêm vào đó, những người mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ của họ sẽ không cười bạn đâu. Thậm chí họ còn giúp bạn sửa lại cho đúng nữa!
Teaching English in Vietnam
Teaching English abroad is a unique experience in any country, but perhaps no more so than in Vietnam. The Vietnamese people live a life that is very much influenced by the past. The beauty of the countryside combined with the rich heritage of the culture will surely result in an extraordinary experience.
If you're considering teaching English in Vietnam, the following information will help you know what to expect.
What requirements are there to teach in Vietnam?
Teaching English in Vietnam requires, in general, a four-year college degree in any subject, and preferably a TEFL (Teaching English as a Foreign Language) certificate. While certification is not necessary, it will increase your chances of landing a good job. A working knowledge of the Vietnamese language is recommended, but only for your own comfort and peace of mind.
Available positions
The vast majority of people teaching English in Vietnam do so at universities. English is a popular course of study for Vietnamese university students, and chances are good that as a native English speaker you'll be a highly valued member of the faculty. Surprisingly enough, you probably won't spend the entire time teaching students; you may be called upon to teach other professors English skills as well.
Although universities are the number one job market, it is also possible to get a job as a private English tutor in Vietnam, or as a teacher of part-time conversational classes. Many Vietnamese adults choose to learn English and attend evening classes by choice, and native-speaking teachers are always in demand.
Life in Vietnam
As a teacher of English in Vietnam, you will essentially be considered a citizen. You'll be required to have a work visa in order to remain in the country, and will be in charge of locating your own lodging. All of these factors should be taken into account when you're choosing a city in which to teach. The lodging available (and the cost of it) will vary widely between small villages and large capital cities. Although big cities may be more expensive in terms of cost of living, they will also offer more opportunities for teaching positions. The final decision is really up to you.
The city of Hanoi, in northern Vietnam, is the main governmental seat of the country. The area around Hanoi and bordering China is influenced heavily by Chinese culture, while further down south in Vietnam you will discover smaller villages and a more mixed range of people and cultures.
Regardless of where you choose to live, beware of the fact that traveling in Vietnam is expensive. Rail travel is available, but is generally slow; if your work place and your home are too far apart to walk, you may want to consider investing in a bicycle.
The Vietnamese people are known for being very friendly and accepting; Vietnam is a pleasant and beautiful country for visitors. Some English teachers choose Vietnam precisely for these reasons. Family ties are strong, and although Buddhism is considered the main religion, no particular faith is dominant. You'll find your Vietnamese students to be open-minded and giving, with a sense of fairness and teamwork already well developed.
General Expectations
Teaching English in Vietnam is a wonderful adventure, but you shouldn't expect to get rich doing it. Pay for teachers is relatively low in Vietnam, and sometimes jobs are somewhat scarce and difficult to locate. You may have to take what you can get.
With that said, you can make the experience much more positive for yourself if you go into it with some money in the bank and a few connections. Many colleges and organizations offer teacher-exchange programs that can help place you with a school in Vietnam and get you started on the path to your teaching career. Use the internet as a tool, and search online for teaching jobs in Vietnam. The more prepared you are to face the challenges ahead, the more you'll benefit from the entire experience.
[By Michelle Simmons]
Đây là một bài viết có từ lâu về các khó khăn trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp trong dạy – học tiếng Anh ở một số nước châu Á và Việt Nam, bạn nào yêu thích thì tham khảo nhé!
TÓM TẮT
Tác giả bài viết đã chỉ ra bốn khó khăn trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp trong dạy – học tiếng Anh ở một số nước châu Á và Việt Nam:
1. Người học không tích cực tham gia hoạt động trong lớp và không có động cơ thúc đẩy việc học tập.
2. Chương trình đào tạo giáo viên dạy học tiếng Anh chưa đạt yêu cầu.
3. Lớp học quá đông học viên.
4. Sự thiếu nhất quán giữa giảng dạy và thi cử.
NGƯỜI HỌC KHÔNG TÍCH CỰC THAM GIA HOẠT ĐỘNG TRONG LỚP VÀ KHÔNG CÓ ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY VIỆC HỌC TẬP
Khi nói về những khó khăn trong việc thực hiện PPGT, trở ngại từ phía người học là điều cần được xem xét trước tiên. Chính việc không tích cực tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học và tình trạng không có động cơ thúc đẩy học tập đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong thực tế học tập của các lớp học ngoại ngữ.
Mặc dù việc tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp là một yếu tố mang tính đặc thù của PPGT, trong báo cáo nghiên cứu xuất bản năm 2001, Smith nhận xét các học sinh và sinh viên trong xã hội không thuộc nền văn hóa phương Tây không thích tham gia vào các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học ngoại ngữ(5). Nhà nghiên cứu này phân tích sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử là yếu tố ngăn cản học sinh, sinh viên ở Hồng Kông không dám đặt câu hỏi hoặc lên tiếng bày tỏ ý kiến cá nhân của mình để tham gia một cách tích cực vào những hoạt động giao tiếp trong lớp.
Theo tư tưởng Nho giáo, học trò phải nghiêm túc học lấy những điều người thầy trinh bày để có thể lặp lại chính xác những kiến thức ấy; thêm vào đó, trong lớp học, việc tỏ ra giỏi giang hơn những người học cùng lớp với mình được xem là một điều không hay, một việc không nên làm. Vì vậy, nếu có một học trò nào chất vấn hoặc đánh giá việc giảng dạy của người thầy, lập tức người học trò ấy sẽ bị mọi người phê phán với những nhận xét không mấy tốt đẹp.
Trong mắt của mọi người, người học trò ấy không biết tôn sư trọng đạo và thiếu đức khiêm tốn chỉ muốn phô trương bản thân mình trước tập thể. Ngoài ra, Smith phân tích thêm rằng tâm lý sợ mất mặt trước đám đông cũng là một yếu tố khác góp phần cản trở việc tham gia các hoạt động giao tiếp được tổ chức trong lớp học ngoại ngữ của các học viên. Các học sinh, sinh viên không đủ mạnh dạn mở miệng nói trong lớp vì họ sợ khi tham gia vào các hoạt động này, họ sẽ nói sai và như thế sẽ bị mọi người đánh giá thấp. Đây cũng là những gì Smith đã ghi nhận được qua nghiên cứu của mình trong các lớp học tiếng Anh ở Hàn Quốc.
Bên cạnh những yếu tố tập quán văn hóa vừa nêu trên, có một yếu tố khác không thể không nói đến ở đây là các học sinh, sinh viên học ngoại ngữ nhưng không có một động cơ thúc đẩy tích cực thôi thúc sự nỗ lực học tập của họ. Nghiên cứu thực tế học và dạy tiếng Anh ở Việt Nam, Bock kết luận: “Phần lớn học sinh, sinh viên dường như chỉ quan tâm đến việc đối phó với các kỳ thi. Và các kỳ thi không hề kiểm tra năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ của học trò”. Nhà nghiên cứu này nhận thấy các sinh viên chỉ muốn kiếm việc làm, và rất nhiều việc làm ở Việt Nam không đòi hỏi khả năng sử dụng tiếng Anh lưu loát. Vì thế, các học sinh, sinh viên Việt Nam không bỏ công sức học tập ngoại ngữ để giao tiếp.
Nhưng không phải chỉ người học gây ra những trở ngại trong việc thực hiện PPGT. Khó khăn cũng nảy sinh từ phía các giáo viên.
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN CHƯA ĐẠT YÊU CẦU
Các giáo viên dạy tiếng Anh ở các nước châu Á gặp nhiều khó khăn trong công việc của mình vì họ không được đào tạo đúng yêu cầu. Ở Indonesia, năm 2000, Jazadi nghiên cứu và phát hiện đa số các giáo viên dạy tiếng Anh chưa được đào tạo chính quy trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ và khả năng sử dụng tiếng Anh của chính bản thân những người giáo viên này rất non kém(6). Tình hình có vẻ khả quan hơn đối với Việt Nam, vì theo điều tra của Lê Văn Cảnh vào năm 2002(7), các giáo viên dạy tiếng Anh của Việt Nam đều tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Anh từ các trường cao đẳng và đại học. Tuy nhiên, mặc dù rất nhiều giảng viên đại học có năng lực và nhiệt tình, thực chất họ lại không thể vận dụng PPGT xuyên suốt quá trình làm việc với sinh viên của mình; do đó, về mặt sư phạm, các sinh viên không có yếu tố “thị phạm”, nói cách khác, không được kiến tập thường xuyên những giờ dạy theo PPGT, không được tiếp xúc với những ví dụ mẫu của PPGT một cách thường trực. Tất yếu, khi các sinh viên này tốt nghiệp ra trường thành giáo viên đứng trên bục giảng, họ khó lòng có khả năng thực hiện PPGT thành công trong khi dạy học trò của mình. Tham khảo chương trình đào tạo của các trường đại học và cao đẳng, Lê Văn Cảnh chỉ ra cho thấy phần lớn thời gian trong chương trình đào tạo của các trường này dành cho việc cung cấp kiến thức về tiếng Anh và rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Anh cho sinh viên, trong khi đó, thời gian dành cho rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chỉ chiếm 40% toàn bộ chương trình đào tạo. Nói cách khác, kiến thức học thuật về ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ được chú trọng hơn trong khi kiến thức và năng lực về giảng dạy ngoại ngữ không đựợc quan tâm đúng mức. Chính phương hướng đào tạo này đưa đến hệ quả các giáo viên dạy ngoại ngữ không đủ bản lĩnh tổ chức và điều động các hoạt động sư phạm trong các lớp học thực tế nói chung và trong việc tổ chức và điều động các hoạt động giao tiếp mang tính sư phạm trong các lớp học vận dụng PPGT nói riêng.
Sau yếu tố người học và người dạy, hệ thống giáo dục là yếu tố thứ ba góp phần làm cho việc áp dụng PPGT ở môi trường châu Á gặp nhiều khó khăn với những lớp học có sĩ số quá đông và tình trạng thiếu nhất quán giữa việc dạy và thi cử.
LỚP HỌC ĐÔNG
Báo cáo khoa học của Nauman năm 2001 cho biết ở châu Á, một lớp học tiếng Anh có thể đông đến 130 sinh viên(8). Tương tự, Bock quan sát thấy ở Việt Nam sĩ số trung bình của một lớp học tiếng Anh khoảng 65 sinh viên. Lê Phước Kỳ xác nhận trong nghiên cứu của mình vào năm 2002 rằng những lớp học có sĩ số đông như thế thực sự là một trở ngại lớn cho việc áp dụng PPGT(9). Trước hết, người giáo viên không thể quan tâm đến tất cả các sinh viên như nhau trong một lớp học quá đông. Vì vậy, những sinh viên rụt rè, có học lực trung bình hoặc yếu sẽ bị lấn lướt bởi những sinh viên học giỏi hơn và dạn dĩ hơn. Từ đó, những sinh viên chưa giỏi hoặc nhút nhát hầu như không tiến bộ trong học tập hoặc càng lúc càng tụt hậu so với những sinh viên giỏi và dạn dĩ. Hơn nữa, một lớp học đông sẽ là một lớp học gồm nhiều trình độ rất khác biệt. Bởi thế, cùng một tài liệu hoặc một hoạt động giao tiếp bằng tiếng Anh, một số sinh viên trong lớp sẽ thấy quá dễ đến mức nhàm chán trong khi một số khác lại thấy quá khó không thể thực hiện nổi.
SỰ THIẾU NHẤT QUÁN GIỮA GIẢNG DẠY VÀ THI CỬ
Nghiên cứu của Jazadi năm 2000 vạch ra cho thấy hệ thống thi cử của Indonesia với những đề thi trắc nghiệm theo dạng đọc hiểu và chọn câu trả lời đúng là một nguyên nhân gây ra những khó khăn trong việc vận dụng PPGT. Jazadi phân tích rằng hình thức thi cử như thế làm cho việc sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp thực tế được rèn luyện trong lớp trở nên không quan trọng nếu không muốn nói là vô nghĩa. Chính vì lý do này, cả giáo viên lẫn sinh viên đều tập trung vào việc học để đối phó với thi cử và những kỹ năng giao tiếp vốn là yếu tố đặc thù của PPGT không được thực hiện trong các lớp học ngoại ngữ.
Mỗi giờ một Web hay
Trung tâm Tư vấn giáo dục đào tạo Quốc tế
http://www.duhocvineco.vn/NgoaiNgu/DaoTaoGiaoVien.asp
http://www.duhocvineco.vn/NgoaiNgu/DaoTaoGiaoVien.asp
Tải phần mềm đánh máy:
* Dùng cho Office XP:
Tiếng Trung (Simplified Chinese) 22.4Mb (hoặc FTP)
Tiếng Nhật (Japanese IME) 52.3Mb (hoặc FTP)
Tiếng Hàn (Korean IME) 11.1Mb (hoặc FTP)
* Dùng cho Office 2007:
Tiếng Trung (MSPY 2007) 74.6Mb (hoặc HTTP)
* Tiếng Việt:
UniKey 3.63 (Standard) 0.3Mb (hoặc UniKeyNT)
Tiếng Trung (Simplified Chinese) 22.4Mb (hoặc FTP)
Tiếng Nhật (Japanese IME) 52.3Mb (hoặc FTP)
Tiếng Hàn (Korean IME) 11.1Mb (hoặc FTP)
* Dùng cho Office 2007:
Tiếng Trung (MSPY 2007) 74.6Mb (hoặc HTTP)
* Tiếng Việt:
UniKey 3.63 (Standard) 0.3Mb (hoặc UniKeyNT)
Mỹ bổ nhiệm tư lệnh mới cho Trung Đông
VnExpress - Thứ Sáu, 25/4
Lầu Năm Góc hôm qua bổ nhiệm tư lệnh quân đội Mỹ tại Iraq David Petraeus làm lãnh đạo mới của sở chỉ huy trung ương (CentCom), phụ trách từ vùng Sừng châu Phi tới Trung Á, bao gồm hai cuộc chiến tại Trung Đông là Iraq và Afghanistan.
Quyết định bổ nhiệm nói trên do Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đưa ra và sẽ chỉ có hiệu lực sau khi được thượng viện phê chuẩn. Sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, tướng Petraeus sẽ chính thức thay đô đốc William Fallon phụ trách CentCom, sau khi ông từ chức hồi tháng 3.
Sự ra đi của đô đốc Fallon diễn ra trong bối cảnh xuất hiện tin cho rằng ông bất đồng với chính sách của Tổng thống Bush về Iran. Mọi chuyện bắt đầu khi tạp chí Esquire đăng bài nói sĩ quan cao cấp này phản đối việc sử dụng vũ lực chống lại Iran xung quanh vấn đề hạt nhân.
Nhưng trong thông báo nghỉ hưu sớm của mình, đô đốc William Fallon cho biết, những thông tin về việc có sự khác biệt giữa ông với chính sách của tổng thống là không chính xác, nhưng nó gây ra quá nhiều rắc rối và khiến ông gặp khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cho biết, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã đồng ý bổ nhiệm tướng David Petraeus làm tư lệnh CentCom và ông "hoàn toàn tin tưởng đây là người thích hợp nhất" cho công việc này.
Tướng Petraeus
Người đứng đầu Lầu Năm Góc cũng thông báo, tướng Petraeus sẽ không rời Iraq trước cuối mùa hè năm nay cho dù quyết định bổ nhiệm được phê chuẩn, nhằm đảm bảo ông có đủ thời gian để chuyển giao nhiệm vụ một cách ổn thỏa tại Iraq.
Trung tướng Ray Odierno, vị phó của ông Patraeus tại chiến trường Iraq và hiện là tư lệnh quân đoàn 3, được đề cử sẽ lên thay thế. Bộ trưởng Gates cho rằng tướng Odierno đã thu được rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian làm "cánh tay phải của Petraeus" tại Iraq suốt một năm qua.
Lầu Năm Góc hy vọng cả hai quyết định bổ nhiệm trên sẽ được Thượng viện Mỹ phê chuẩn vào ngày 26/5 tới. Chức tư lệnh CentCom đang do trung tướng Martin Dempsey tạm thời đảm nhận. Ông là phó của đô đốc William Fallon và được chỉ định thay thế khi cấp trên từ chức kể từ ngày 28/3.
Đình Chính (theo BBC, AP)
Lầu Năm Góc hôm qua bổ nhiệm tư lệnh quân đội Mỹ tại Iraq David Petraeus làm lãnh đạo mới của sở chỉ huy trung ương (CentCom), phụ trách từ vùng Sừng châu Phi tới Trung Á, bao gồm hai cuộc chiến tại Trung Đông là Iraq và Afghanistan.
Quyết định bổ nhiệm nói trên do Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đưa ra và sẽ chỉ có hiệu lực sau khi được thượng viện phê chuẩn. Sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, tướng Petraeus sẽ chính thức thay đô đốc William Fallon phụ trách CentCom, sau khi ông từ chức hồi tháng 3.
Sự ra đi của đô đốc Fallon diễn ra trong bối cảnh xuất hiện tin cho rằng ông bất đồng với chính sách của Tổng thống Bush về Iran. Mọi chuyện bắt đầu khi tạp chí Esquire đăng bài nói sĩ quan cao cấp này phản đối việc sử dụng vũ lực chống lại Iran xung quanh vấn đề hạt nhân.
Nhưng trong thông báo nghỉ hưu sớm của mình, đô đốc William Fallon cho biết, những thông tin về việc có sự khác biệt giữa ông với chính sách của tổng thống là không chính xác, nhưng nó gây ra quá nhiều rắc rối và khiến ông gặp khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cho biết, Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã đồng ý bổ nhiệm tướng David Petraeus làm tư lệnh CentCom và ông "hoàn toàn tin tưởng đây là người thích hợp nhất" cho công việc này.
Tướng Petraeus
Người đứng đầu Lầu Năm Góc cũng thông báo, tướng Petraeus sẽ không rời Iraq trước cuối mùa hè năm nay cho dù quyết định bổ nhiệm được phê chuẩn, nhằm đảm bảo ông có đủ thời gian để chuyển giao nhiệm vụ một cách ổn thỏa tại Iraq.
Trung tướng Ray Odierno, vị phó của ông Patraeus tại chiến trường Iraq và hiện là tư lệnh quân đoàn 3, được đề cử sẽ lên thay thế. Bộ trưởng Gates cho rằng tướng Odierno đã thu được rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian làm "cánh tay phải của Petraeus" tại Iraq suốt một năm qua.
Lầu Năm Góc hy vọng cả hai quyết định bổ nhiệm trên sẽ được Thượng viện Mỹ phê chuẩn vào ngày 26/5 tới. Chức tư lệnh CentCom đang do trung tướng Martin Dempsey tạm thời đảm nhận. Ông là phó của đô đốc William Fallon và được chỉ định thay thế khi cấp trên từ chức kể từ ngày 28/3.
Đình Chính (theo BBC, AP)
Thượng nghị sĩ Hillary Clinton nhận được chục triệu USD quyên góp cho chiến dịch tranh cử vào Nhà Trắng của bà sau chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ
Theo Vnexpress
Giám đốc chiến dịch tranh cử của Clinton, Terry McAuliffe, gọi chiến thắng tại bang Pennsylvania là sự kiện làm thay đổi cục diện cuộc đua vào vị trí ứng viên tổng thống đại diện đảng Dân chủ giữa Clinton và đối thủ Barack Obama.
Tính đến trưa hôm qua, quỹ vận động tranh cử của cựu đệ nhất phu nhân nhận được gần 5 triệu USD quyên góp và dự tính số tiền lên đến 10 triệu USD vào cuối ngày.
Quỹ tranh cử của Clinton đang nợ hơn 10 triệu USD và hiện nữ thượng nghị sĩ cũng chỉ có khoảng 9,5 triệu USD tiền mặt để phục vụ cho chiến dịch chạy đua vào Nhà Trắng. Trong khi đó, đối thủ chính của bà là ông Obama đang có 43 triệu USD sẵn sàng đổ vào cuộc đua này.
Nhiều nhà phân tích cho rằng chiến thắng ở bang Pennsylvania chỉ kéo dài hy vọng bước chân vào Nhà Trắng của bà Clinton và cựu đệ nhất phu nhân cũng không có nhiều thời gian để vui mừng do tiền trong quỹ tranh cử và thời gian của bà đều đang cạn dần.
Quỳnh Mai (theo Tân Hoa Xã, News.com.au)
Giám đốc chiến dịch tranh cử của Clinton, Terry McAuliffe, gọi chiến thắng tại bang Pennsylvania là sự kiện làm thay đổi cục diện cuộc đua vào vị trí ứng viên tổng thống đại diện đảng Dân chủ giữa Clinton và đối thủ Barack Obama.
Tính đến trưa hôm qua, quỹ vận động tranh cử của cựu đệ nhất phu nhân nhận được gần 5 triệu USD quyên góp và dự tính số tiền lên đến 10 triệu USD vào cuối ngày.
Quỹ tranh cử của Clinton đang nợ hơn 10 triệu USD và hiện nữ thượng nghị sĩ cũng chỉ có khoảng 9,5 triệu USD tiền mặt để phục vụ cho chiến dịch chạy đua vào Nhà Trắng. Trong khi đó, đối thủ chính của bà là ông Obama đang có 43 triệu USD sẵn sàng đổ vào cuộc đua này.
Nhiều nhà phân tích cho rằng chiến thắng ở bang Pennsylvania chỉ kéo dài hy vọng bước chân vào Nhà Trắng của bà Clinton và cựu đệ nhất phu nhân cũng không có nhiều thời gian để vui mừng do tiền trong quỹ tranh cử và thời gian của bà đều đang cạn dần.
Quỳnh Mai (theo Tân Hoa Xã, News.com.au)
Thứ Ba, 15 tháng 4, 2008
Web nhắn tin, tải nhạc tìm hình ảnh miễn phí
Hãy truy cập vào Website này:
http://monava.vn
GIỚI THIỆU VỀ MONAVA
Ý tưởng thành lập
- Mong muốn thử sức
- Mong muốn chinh phục.
- Hơn nữa là sứ mệnh xây dựng một hệ thống mang thương hiệu Việt với tầm vóc quốc tế
Với những mong muốn, nhiệt huyết, năng lực và sáng tạo của đội ngũ nhân lực tài năng. Công ty TNHH Phát triển Công Nghệ MONAVA đã chính thức khai sinh vào ngày 17-10-2007 để thực hiến sứ mệnh trên.
Monava là gì?
Monava là viết tắt của cụm từ "MOre ANd VArious" tức là "Nhiều hơn và đa dạng hơn" . Đó chính là phương châm hoạt động của Monava "Nhiều hơn và đa dạng hơn để đáp ứng những nhu cầu thiết thực nhất, hữu ích nhất cho cộng đồng và xã hội.
Do vậy, Monava.vn tích hợp các công nghệ tiên tiến và chọn lọc các nguồn thông tin phong phú nhất hiện nay từ Google để đem lại tiện ích nhất cho người dùng Việt Nam.
Liên hệ: Công ty TNHH - PTCN MONAVA
Số 8 - Lô 6 Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT:84 4 2660926
Email: monava@monava.vn
Website: www.monava.vn
http://monava.vn
GIỚI THIỆU VỀ MONAVA
Ý tưởng thành lập
- Mong muốn thử sức
- Mong muốn chinh phục.
- Hơn nữa là sứ mệnh xây dựng một hệ thống mang thương hiệu Việt với tầm vóc quốc tế
Với những mong muốn, nhiệt huyết, năng lực và sáng tạo của đội ngũ nhân lực tài năng. Công ty TNHH Phát triển Công Nghệ MONAVA đã chính thức khai sinh vào ngày 17-10-2007 để thực hiến sứ mệnh trên.
Monava là gì?
Monava là viết tắt của cụm từ "MOre ANd VArious" tức là "Nhiều hơn và đa dạng hơn" . Đó chính là phương châm hoạt động của Monava "Nhiều hơn và đa dạng hơn để đáp ứng những nhu cầu thiết thực nhất, hữu ích nhất cho cộng đồng và xã hội.
Do vậy, Monava.vn tích hợp các công nghệ tiên tiến và chọn lọc các nguồn thông tin phong phú nhất hiện nay từ Google để đem lại tiện ích nhất cho người dùng Việt Nam.
Liên hệ: Công ty TNHH - PTCN MONAVA
Số 8 - Lô 6 Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT:84 4 2660926
Email: monava@monava.vn
Website: www.monava.vn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
